Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao động vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao động vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Một vài món ăn ngon chế biến từ thịt trăn

Trăn là một loài động vật hiếm nên các món ăn từ thịt trăn cũng không được phổ biến trong các thực đơn. Nó chỉ xuất hiện thỉnh thoảng trong thực đơn gia đình, và thường thì ở trong các nhà hàng sang trọng. Tuy nhiên nếu biết cách biến tấu thịt trăn thì sẽ tạo nên những món ăn ngon vô cùng bổ dưỡng và ngon miệng.
Bài viết dưới đây tôi sẽ giới thiệu đến các bạn một vài món ăn đặc sắc chế biến từ thịt trăn.

Thịt trăn nướng

Cách làm:


Thịt trăn nướng: thịt trăn 400 – 500g. Trăn đã lột da bỏ ruột, mỡ, xương, thái miếng để sẵn. Chảo đất nung đặt trên bếp cho nóng đỏ, vẩy ít nước dấm, cho thịt trăn vào nướng, đậy kín, đảo các miếng thịt 3 – 5 lần cho chín. Chấm với nước chấm và gia vị khi ăn. Dùng cho các trường hợp bại liệt, lở ngứa nổi ban dị ứng.

Chả trăn xương sông lá lốt

Cách làm:
Thịt trăn 200g – 400g. Lột da trăn, ruột, mỡ, xương, thái miếng, băm nhỏ với xương sông lá lốt, thêm muối mắm gia vị, nặn thành viên, rán chín. Dùng cho các trường hợp đau nhức xương khớp, lở ngứa, ban chấn dị ứng. Tuần ăn 2 – 3 lần.

Cháo trăn

Cách làm:

Thịt trăn 150g – 200g. Trăn đã lột da bỏ ruột, mỡ, xương, thái miếng, nấu với gạo tẻ thành cháo, thêm gia vị, rau thơm, tiêu ớt. Dùng cho các trường hợp bại liệt, đau nhức chi thể, kinh giật, lở ngứa. Tuần ăn 1 – 2 lần.

Thịt trăn hầm rễ tiêu

Cách làm:
Thịt trăn 300g – 500g. Trăn đã lột da bỏ ruột, mỡ, xương, thái miếng; rễ cây hạt tiêu rửa sạch cắt đoạn, thêm gừng, hành, dấm, gia vị, nước lượng thích hợp. Đun to lửa cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa cho chín nhừ. Chia ăn 2 – 3 lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp viêm sưng khớp, lở ngứa, bại liệt.
Trên đây là hướng dẫn đơn giản, cụ thể nhất một vài món ăn đặc sắc chế biến từ thịt trăn mà mình đã tổng hợp lại.
Chúc các bạn có những bữa ăn ngon miệng!

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Bất ngờ từ cao xương cá sấu trong điều trị bênh thoái hóa khớp

Cao cá sấu chứa lượng canxi không nhiều nhưng hàm lượng collagen lại khá cao. Canxi giúp tăng mật độ xương còn collagen giúp tăng chất lượng, tính đàn hồi của xương khớp nhờ mối liên kết của các phân tử collagen, do đó collagen được coi là nền tảng cho canxi và các khoáng chất khác có thể tích lũy và bám vào xương.

Bài viết sau của Đại tá – Thạc sĩ Khánh Toàn (Chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền, bệnh viện Trung ương Quân đội 108) sẽ cung cấp thêm một số thông tin hữu ích về Cao xương Cá sấu trong việc khắc phục các bệnh lý về xương khớp.
Nghiên cứu cho thấy, chất keo xương hay còn gọi là Collagen luôn được tạo ra trước sự hình thành xương, sau đó, các tinh thể Canxi hydroxyapatite mới được hấp thụ vào để tạo thành mô xương mới. Quá trình này được gọi là sự khoáng hóa Collagen. Vì vậy, nếu thiếu đi chất keo này, canxi không được hấp thụ khiến mật độ xương sẽ giảm thấp, dễ dẫn đến nhiều bệnh lý xương khớp như loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp…


Cao xương Cá sấu có hàm lượng Collagen cao, khi kết hợp với các vị thảo dược sẽ mang lại hiệu quả khả quan. Một số loại thảo dược dược “song hành” cùng với Cao xương Cá sấu trong hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp:
Ngưu tất: Theo y học cổ truyền, Ngưu tất có vị chua, hơi đắng, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt (khi được chế biến chín). Rễ ngưu tất có chứa khoảng 4% saponin – một hoạt chất có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, phòng chống ứ tắc lòng mạch. Theo y học cổ truyền “bất thông tắc thống”, kinh mạch không thông gây ra tình trạng đau tại các khớp. Vì vậy, dược liệu này có thể dùng hỗ trợ điều trị thấp khớp, viêm khớp và giảm đau khớp do nhiễm lạnh.


Đỗ trọng: hảo dược này vị ngọt, hơi cay, tính ôn, có tác dụng bổ can thận, dùng chữa đau lưng, chân gối yếu mềm. Người ta đã tìm ra trong Đỗ trọng chứa các thành phần như glucosid aucubin, loganin, acid chlorogenic… có tác dụng chống viêm, hạ áp, hỗ trợ điều trị thấp khớp, giúp xương cốt dẻo dai.
Ba kích: Có vị cay, ngọt, tính hơi ôn, tác động vào kinh thận. Thành phần hóa học chính của ba kích là các hợp chất anthranoid, trong thành phần rễ tươi của cây còn chứa nhiều Vitamin C. Ba kích giúp tăng cường khả năng vận động, thường dùng cho bệnh nhân mắc bệnh phong thấp và còn có tác dụng hạ huyết áp.
Đương qui: Có vị ngọt, cay, tính ôn, vào 3 kinh tâm, can và tỳ. Đương qui giúp bổ huyết, hoạt huyết, tăng cường sức khỏe và trẻ hóa cơ thể. Theo nghiên cứu dược học hiện đại, Đương qui chứa nhiều nhóm hoạt chất quý như tinh dầu, trong đó chất ligustilid có tác dụng làm giãn mạch, tăng tuần hoàn máu… Đặc biệt, khi kết hợp Đương qui với các thảo dược như Ngưu tất, Thương truật, Khương hoạt, Sinh địa, Đại hoàng… sẽ giúp tăng cường hiệu quả điều trị đối với các bệnh nhân xương khớp.

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Cao xương động vật và Cao xương ngựa

Thời gian gần đây dư luận xã hội có nhiều thông tin khác nhau về cao xương ngựa và cao xương động vật. Để giúp cho người tiêu dùng có thêm thông tin chính xác về loại sản phẩm này, để hiểu đúng, làm đúng và dùng đúng, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn PGS-TS Trần Đáng, nguyên là Cục trưởng Cục ATVSTP – Bộ Y tế, nay là Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng.

PV: Xin ông cho biết các sản phẩm về ngựa có thể sử dụng cho việc nâng cao sức khoẻ của con người?


PGS-TS Trần Đáng: Từ xa xưa, cha ông ta đã sử dụng 8 sản phẩm cho việc nâng cao sức khoẻ con người, đó là:

1. Thịt ngựa (còn gọi là mã nhục) có 21,5% protit, 5-7% lipit,  các muối khoáng và các vitamin. Thịt  ngựa có vị ngọt, tính nóng, có tác dụng cường cơ, bổ gân.

2. Sữa ngựa (còn gọi là mã nhũ): Thành phần gồm: 2,1% protit (cao hơn sữa mẹ 1,5%); 1,1% lipit; vitamin C (cao hơn sữa bò); các muối khoáng và chất vi lượng. Sữa ngựa có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu khát, phục hồi sức khoẻ do suy nhược.

3. Xương ngựa (còn gọi là mã cốt), chứa nhiều canxi phosphat, keratin, oscein… sản phẩm của xương ngựa chủ yếu là cao xương ngựa. Cao xương ngựa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân xương.

4. Sỏi dạ dày, sỏi mật ngựa (còn gọi là mã bảo): Có vị mặn, tính lạnh, có tác dụng trấn kinh, hoá đờm, dùng chữa co giật, điên cuồng, động kinh.

5. Phân ngựa: Theo tài liệu “Nam dược thần liệu” và một số tác giả khác, có thể phối hợp với một số dược thảo khác để chữa thổ huyết, chữa đau thắt ngực.

6. Dương vật ngựa: Theo dân gian có thể chữa liệt dương.

7. Móng chân ngựa: Đốt cháy thành than, bôi chữa trĩ.

8. Máu ngựa: Được ứng dụng để sản xuất huyết thanh miễn dịch.

PV: Thưa ông, các loại cao nấu từ xương động vật có ý nghĩa như thế nào trong lịch sử y học và dinh dưỡng của loài người? Có phải các loại cao xương động vật chỉ là đặc thù của y học Phương Đông và phù hợp với tâm lý người tiêu dùng Châu Á?

PGS-TS Trần Đáng: Các loại cao xương động vật được sản xuất từ lâu đời nhằm mục đích phục vụ sức khoẻ con người như: Cao xương hổ, cao xương gấu, cao xương ngựa… Đây là đặc thù của nền y học Phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam. Cao xương động vật được sử dụng rất rộng rãi trong dân gian và các giới quý tộc từ rất xa xưa đã dùng để bồi dưỡng sức khoẻ và chữa trị nhiều chứng bệnh. Theo GS Đỗ Tất Lợi, “Cao xương hổ là một vị thuốc rất được tín nhiệm trong nhân dân, chủ yếu được dùng trong những bệnh đau xương, tê thấp, cảm gió, điên cuồng và làm thuốc bổ”; “Cao xương ngựa có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân xương, dùng để chữa suy nhược cơ thể ở người mới ốm dậy, phụ nữ sau khi sinh, trẻ em còi xương, xanh xao, biếng ăn”; “Cao xương gấu để chữa tê thấp, đau lưng, mỏi gối”. Sử dụng các loại cao xương động vật là phù hợp tâm lý người tiêu dùng Châu Á và Phương Đông từ lâu đời.

PV: Theo ông, cao xương ngựa có được gọi là thuốc hay không? Đặt tên cho cao xương ngựa là TPCN, thực phẩm dinh dưỡng đặc biệt liệu có thích hợp? Là chuyên gia trong ngành dinh dưỡng, ông có thể nêu một thuật ngữ thích hợp không?

PGS-TS Trần Đáng: Mặc dù các nhà Đông y cho cao xương ngựa là một sản phẩm thuốc cổ truyền, nhưng theo quan điểm hiện nay, cao xương ngựa xếp vào nhóm thực phẩm chức năng là thích hợp nhất. Trong nhóm thực phẩm chức năng có nhiều tên gọi khác nhau. Theo tôi, cao xương ngựa gọi là: Thực phẩm bổ dưỡng thì dân gian dễ hiểu và phù hợp với tác dụng của cao xương ngựa.

PV: Cao xương ngựa được nhiều người biết đến là thực phẩm rất quý, chính vì thế nhiều loại cao xưng ngựa không nguồn gốc, nhãn mác lại xuất hiện tràn lan. Vậy ông có thể tư vấn cho người tiêu dùng làm thế nào để chọn được loại cao tốt để sử dụng an toàn, hiệu quả?


PGS-TS Trần Đáng: Thực tế đã có nhiều loại cao xương ngựa không rõ nguồn gốc. Tuy nhiên, không riêng gì cao xương ngựa mà nhiều sản phẩm khác khi được người tiêu dùng quan tâm cũng có hiện tượng tưng tự. Thông thường, một sản phẩm TPCN muốn được lưu hành trên thị trường thì nhà sản xuất phải xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng, vi sinh, kim loại nặng, vệ sinh, nhãn mác cho sản phẩm của mình và được cơ quan chức năng (Bộ Y Tế) xem xét. Nếu tiêu chuẩn đó phù hợp với tiêu chuẩn Nhà nước qui định, đảm bảo về chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm thì sẽ cấp cho sản phẩm đó giấy chứng nhận tiêu chuẩn, số chứng nhận sản phẩm. Do vậy, người tiêu dùng khi chọn mua cần xem xét kỹ những thông tin về chất lượng VSATTP in trên bao bì nhãn mác, đặc biệt xem xét nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm đó (tên công ty, cơ sở sản xuất). Sức khoẻ là tài sản vô giá của mỗi chúng ta, vì thế không nên xem thường, tham rẻ mua những sản phẩm trôi nổi chưa được đăng ký kiểm định cấp phép của ngành y tế.    

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Cao động vật ngâm rượu để được bao lâu?

"Tôi muốn dùng cao động vật ngâm rượu để chữa bệnh, nhưng có người nói chỉ dùng được dưới 10 ngày, nếu để lâu, thuốc sẽ độc hại. Có đúng như vậy không? Cách ngâm rượu và sử dụng cao như thế nào?".

Trả lời:

Cao động vật là một dạng thuốc được dùng chữa bệnh từ lâu trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian. Cao được chế từ xương, gạc, mai, yếm hoặc thịt của các loại động vật. Cao động vật ở thể dẻo chứa khoảng 10-15% nước, sờ không dính tay, đóng được thành bánh như cao hổ, cao khỉ, cao ban long (sừng hươu nai). Có loại cao mềm, sánh như mật đặc hoặc sền sệt, chứa khoảng 20% nước, sờ dính tay, không đóng bánh được như cao miết giáp (cao mai ba ba), cao quy bản (cao yếm rùa)...



Mỗi loại cao hoặc nhóm cao động vật có tác dụng đặc trị đối với từng loại bệnh. Cao hổ, cao gấu và cao sơn dương có tác dụng giảm đau, chữa tê thấp, đau lưng. Cao trăn chữa đau cột sống. Cao khỉ, cao dê chữa thiếu máu, đau mình mẩy. Cao ban long, cao miết giáp, cao quy bản là thuốc bổ dưỡng chữa suy nhược cơ thể, gầy yếu, xanh xao, kém ăn, mất ngủ...



Cách dùng cao động vật tốt nhất là ngâm rượu với tỷ lệ một phần cao và 10 phần rượu 35-40 độ (đối với cao dẻo phải cắt mỏng). Ngâm 7-10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều cho cao chóng tan. Ngày uống 2 lần trước mỗi bữa ăn, mỗi lần một cốc nhỏ, có thể thêm ít đường cho dễ uống. Người không biết uống rượu có thể trộn cao với mật ong hoặc cháo nóng để ăn.



Nếu cao động vật được chế biến đúng kỹ thuật, hợp vệ sinh, không pha trộn các chất ngoại lai như keo da, hắc ín (trong cao giả); rượu dùng để ngâm bảo đảm đúng độ quy định, vật đựng sạch sẽ, khô ráo, vô trùng (tốt nhất là dùng lọ có nút mài) thì rượu ngâm có thể bảo quản được vài tháng để dùng dần, nhưng cũng không được để quá 6 tháng.

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Tuổi nào nên dùng cao động vật

Tuổi nào nên dùng cao động vật?

Hỏi:

Tôi năm nay 40 tuổi, bị thoái hóa đốt sống lưng. Xin hỏi bác sĩ, tuổi tôi đã dùng được cao chưa? Ngô Thị Hồng Hà (Đông Anh - Hà Nội)

Trả lời:

Thoái hóa xương khớp nói chung cũng như thoái hóa cột sống (hay gặp là đốt sống lưng và đốt sống cổ) là bệnh thường gặp. Như chúng ta đã biết, bắt đầu từ tuổi 25 mật độ xương bắt đầu giảm đi, vì vậy nếu không biết cách bù đắp và giữ gìn thì quá trình loãng xương sẽ làm cho các khớp cũng như các đốt sống thoái hóa. 

Trong thư bạn hỏi tuổi của bạn bị thoái hóa đốt sống lưng đã dùng được cao động vật  chưa? Xin được trả lời như sau: 

Trước hết chúng ta nên hiểu cao là gì? Cao có nhiều loại như cao xương là được nấu từ xương động vật, hoặc cao toàn tính là nấu từ xương và cả da động vật có thể có thêm các vị thuốc Đông y... Trong các loại cao đều chứa lượng axit amin dồi dào, các yếu tố vi lượng như canxi, kali, đồng, kẽm... Như vậy dùng cao là bổ sung cho cơ thể lượng axit amin và lượng canxi giúp phòng ngừa và điều trị loãng xương, từ đó chống thoái hóa xương khớp. 


Theo kinh nghiệm thì các thầy thuốc Đông y hay khuyên những người trung và cao tuổi, phụ nữ sau sinh sức khỏe yếu, bệnh mạn tính, ốm lâu ngày, sau phẫu thuật... dùng cao để bồi bổ sức khỏe... 

Tuy nhiên, lượng sử dụng cũng như loại cao nào nên sử dụng thì cần có sự thăm khám và chỉ định của thầy thuốc Đông y. Vì theo Đông y thì có loại cao thiên về bổ âm nhưng có loại thiên về bổ dương. Và cũng cần biết cao động vật là protein nên có thể gây dị ứng cho người sử dụng chứ không phải cứ cao là tốt. Tại chuyên khoa da liễu cũng đã gặp những bệnh nhân sau khi uống cao trăn bị dị ứng... 

Lời khuyên của tôi là không nhất thiết phải mua cao để dùng ở tuổi của bạn mà thay vào đó bạn nên phòng ngừa và ngăn chặn thoái hóa thêm bằng chú ý chế độ ăn uống giàu canxi, chế độ lao động phù hợp và tập luyện thường xuyên.

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

Uống cao động vật có thực sự bổ dưỡng

Cao hổ cốt, cao ngựa, cao trăn, cao khỉ... được nhiều người truyền miệng là "thuốc tiên" trị đau lưng, nhức mỏi, tê thấp...
Tuy nhiên không ít trường hợp uống vào bổ đâu không thấy, chỉ thấy bị suy gan, thận.

Tưởng lợi hóa hại


Bị đau khớp gối, đau lưng, mỏi vai hơn chục năm, bà Nguyễn Thị H. (64 tuổi, ở Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), ngồi xuống đứng lên rất khó khăn, nhất là khi trời trở lạnh. Được người quen hướng dẫn bài thuốc cao hổ cốt, con gái của bà H. liền tìm mua một lạng với giá gần 15 triệu đồng về chưng cách thủy cho mẹ uống hàng ngày. Lúc đầu, bà H. có cảm giác đỡ đau nhức.

Tuy nhiên, sau năm tháng uống cao, khi đến Bệnh viện (BV) Đại học Y Dược TP.HCM khám, bác sĩ (BS) phát hiện bà bị tăng men gan gấp 10 lần so với bình thường. Nguyên nhân được xác định do tác dụng phụ của cao hổ cốt.



Tương tự, ông Lê Văn M. (79 tuổi, ở P.An Lạc, Q.Bình Tân, TP.HCM) vốn bị cao huyết áp và tiểu đường, lại gánh thêm căn bệnh suy thận ở tuổi xế chiều cũng vì dùng cao động vật. Bị đau lưng kinh niên, nghe người hàng xóm khoe có mối mua cao ngựa “giá gốc”, con ông đặt mua và ngâm rượu cho cha uống trị bệnh. Ngày nào ông cũng nhâm nhi hai-ba ly nhỏ, đến khi ông bị cao huyết áp đột ngột, phải vào BV Chợ Rẫy cấp cứu, mới phát hiện ông bị suy thận.

Nhiều trường hợp uống vào bổ đâu không thấy, chỉ thấy bị suy gan, thận - Ảnh mang tính minh họa: Internet

Riêng anh Nguyễn Văn H. (41 tuổi, H.Nhà Bè, TP.HCM) sau thời gian dài uống cao trăn với mục đích bổ xương, tráng dương, không ngờ chuốc lấy hậu quả nặng nề. Từng nghe nhiều về kết quả “thần kỳ” của các loại cao, ngoài giảm đau nhức xương khớp, còn có công dụng “tráng dương”, khi được người bà con ở Tây Nguyên tặng một ít cao trăn, anh liền ngâm rượu uống, với kỳ vọng hết đau nhức và sẽ “hừng hực”, nhưng càng uống “chuyện ấy” càng suy yếu. Tìm hiểu, anh H. được biết, cao trăn không phải là thuốc chữa bệnh nam giới, giúp cường dương; ngược lại độc tính trong cao này có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng tình dục.

Phải có chỉ định của thầy thuốc


Không chỉ riêng cao hổ cốt, mà các loại cao động vật nói chung như ngựa, khỉ, trăn, dê, cá sấu, hươu, nai… đều có chung thành phần là dồi dào chất đạm, khoáng, collagen. Những chất này rất cần thiết cho cơ thể, cho hoạt động của hệ xương khớp. Theo Đông y, một số loại cao động vật có tác dụng hỗ trợ sức khỏe như: cao hổ cốt có công dụng bổ dương, làm mạnh gân cốt, chữa các chứng tê thấp, đi lại khó khăn; cao trăn có tác dụng trị đau nhức khớp mạn tính, lở ghẻ; cao ngựa làm mạnh gân cốt, trị đau nhức; cao khỉ toàn tính, cao mèo đen có tác dụng bổ máu, phù hợp cho người lao lực, mệt mỏi, kém ăn, mất ngủ, phong thấp…

Tuy nhiên, theo ThS-BS Nguyễn Văn Đàn - giảng viên Trường ĐH Y Dược TP.HCM, nên dùng cao động vật theo chỉ định của thầy thuốc. Việc dùng cao động vật tùy tiện gây hại cho sức khỏe, vì những nguyên nhân sau:

Dùng cao không hợp với thể bệnh


Theo Đông y, có loại cao tính hàn thiên về bổ âm, nhưng có loại cao tính ôn nhiệt thiên về bổ dương, do vậy tùy bệnh trạng và cơ địa người bệnh mà chỉ định liều lượng sử dụng cũng như loại cao khác nhau. Nếu dùng sai rất nguy hiểm cho sức khỏe, vì có thể khiến bệnh nặng hơn hoặc sinh ra chứng bệnh mới.

Ví dụ, theo y học cổ truyền, cao hổ cốt có tính nóng và trợ dương khá mạnh nên những người có thể chất hoặc mắc các chứng bệnh thuộc thể âm hư hỏa vượng biểu hiện như: người gầy, hay có cảm giác nóng hoặc sốt về chiều, hay có cơn bốc hỏa, đầu choáng mắt hoa, tai ù... thì không được dùng.

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Kỳ án nấu nhầm xương người thành cao 16 năm trước

Phát hiện xác chết cháy, tưởng đó là tinh tinh nên ông Ngạch mang về cho cả làng nấu cao. Ít lâu sau, họ mới phát hiện ra đó là xác người.

16 năm đã trôi qua, nhưng những người dân thôn Đá Cóc vẫn không thôi sợ hãi về hình ảnh người thợ săn ông Đinh Văn Ngạch (sinh năm 1946, ngụ thôn Đá Cóc, xã Thắng Sơn, huyện Thanh Sơn, Phú Thọ) buộc xác “con tinh tinh quý hiếm” bằng dây rừng rồi vượt mấy ngọn đồi cao kéo về sân nhà và cùng dân làng nấu cao.

Thời điểm đó, ông Đinh Văn Ngạch được một chủ rừng trong vùng tên Nguyễn Văn Ước thuê trông coi khu rừng trồng cây lấy gỗ trên đồi Đồng Cốc, cách nhà hơn 3km.

Chiều ngày 5/12/1998, ông phát hiện một vật thể lạ, đã cháy đen, dáng giống hệt một con khỉ, nhưng to lớn hơn khỉ vài lần. Nhìn vật thể cháy đen, ông thợ săn suy đoán đây là một con vật chết cháy. Quan sát kỹ hình dáng, ông thợ săn khẳng định đây là loài tinh tinh quý hiếm. Ông tìm loại dây rừng bền chắc, dẻo, buộc vào xác, vắt dây lên vai, kéo vượt qua quả đồi, đưa về làng.


Biết tin ông Ngạch săn được loài “động vật quý hiếm” xưa nay chưa từng xuất hiện ở địa phương, dân làng từ già đến trẻ nô nức kéo đến sân nhà ngắm nghĩa, trầm trồ ngợi khen.

Ông Hoàng Văn Dũng, Trưởng thôn Đá Cóc nhớ lại, khi đó ông đã làm trưởng thôn cũng sang xem tình hình. Theo mô tả của ông trưởng thôn, cái xác khi ấy đã bị biến dạng, cháy xém, đen thui, lưng gù, bắp chân vừa to vừa dài. Đặc biệt, quan sát thấy hai bàn tay co quắp, móng tay khá dài, chi trước phồng lên.

“Trông giống y hệt con tinh tinh mà mọi người được xem trong tranh ảnh, tivi. Quả thật nó quá giống khiến cả tôi khi đó cũng tin rằng đó là loài vật quý hiếm”, ông trưởng thôn trần tình. Vì thấy “con vật” có kích thước to, dài, dân làng còn khiêng ra giữa sân để đo chiều dài, cân nặng.

Sáng hôm sau, ông Ngạch cùng anh em trong nhà và một số hàng xóm thân thích chuẩn bị dao, thớt, gầu múc nước, ra ao đầu làng. “Con tinh tinh” được khiêng theo để rửa sạch, mổ xẻ. Tổng cộng có khoảng trên 10 người trực tiếp tham gia việc mổ xác, cùng hàng chục người khác là dân làng tò mò đến xem.


Cũng trong buổi sáng hôm đó, thông tin về việc dân làng bắt được “động vật quý hiếm” đã đến tai cơ quan chức năng. Một cán bộ kiểm lâm địa phương được cử đến nhưng lúc đó người dân đã mổ xác xong. Sau khi xương, thịt được phân loại xong xuôi, họ bắt tay nấu cao. Ông trưởng thôn còn năn nỉ mua lại một phần xương cốt để mang về nấu cao, nhưng không được đồng ý. “Cũng may về sau tôi không mua được. Nghĩ lại đến giờ vẫn thấy rùng mình dựng hết gai ốc”, ông trưởng thôn nhớ lại.

Hơn chục người cả ngày lẫn đêm thay phiên nhau trực nồi cao. Lò lửa luôn được đốt hết công suất, lâu lâu lại thêm nước vào nồi, tránh việc nước cạn, có thể cháy nồi cao. Ai cũng háo hức chờ đợi “nồi cao quý” ra lò.

Hơn 20 dân làng đã tham gia vào việc nấu cao nhầm lẫn tai hại,
Hơn 20 dân làng đã tham gia vào việc nấu cao nhầm lẫn tai hại. Ảnh minh họa
Sau 3 ngày 3 đêm, việc nấu cao hoàn thành. Loại cao này khá mềm, có màu đỏ nhạt chứ không giống màu nâu, cứng như những cao khỉ thông thường. Bõ công bao ngày háo hức chờ đợi, nay nồi cao nấu xong, mọi người liền đi mua rượu, ngâm với một phần cao rồi tò mò thưởng thức “rượu quý”. Rất đông dân làng cùng được uống loại rượu này chứ không riêng ai.

Nhân chứng Nguyễn Văn Đông (sinh năm 1964, ngụ khu Dốc Cóc, xã Hoàng Xá, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) kể: "Nói thật khi ấy mọi người nói là rượu quý, lại rất bổ, cả đời gặp một lần nên tôi mới uống hai chén. Nó gây xộc thẳng lên mũi, gây đến mức không thể tưởng tượng được vì trên đời này chưa có cái gì để so sánh”.

Nồi cao hôm đó, sau khi cô đặc lại, có trọng lượng hơn 1kg. Trong thời gian chờ cao khô cứng để phân chia, mọi người rụng rời chân tay vì một nghi vấn. Mới nghe đặt giả thiết, người nào đã lỡ uống “cao tinh tinh”, cảm giác gây gây lại xộc lên, móc mồm móc miệng ọe ra cả tuần lê lết.

Không ai ngờ cái xác hôm ấy là xác người. Vài ngày sau, khi một lão nông tìm thấy chứng cứ chứng minh đó là người tự thiêu, ba xe cảnh sát tìm tới vùng sơn thâm cùng cốc. Kết quả giám định ADN kết luận cái xác bị dân làng Đá Cóc nấu thành cao chính là một thiếu phụ gần đó.

Tổng cộng hơn 20 người trực tiếp nấu cao hoặc chứng kiến việc nấu cao đều được triệu tập lấy lời khai. Tuy nhiên, tất cả những người này đều nhất loạt khai khi đó không biết xác chết là con người. Bản thân ông thợ săn, người đầu tiên phát hiện ra xác chết và mang về làng nấu cao, cũng một mực cho rằng khi ông lên rừng thì phát hiện “con tinh tinh” khi đó đã có biểu hiện phân hủy nhẹ, ruồi nhặng bâu đầy. Chuyện xác người ông còn nhầm lẫn, thì vì sao nạn nhân chết, ông không hề hay biết. Sau đó, mọi người thoát tội.

Người xấu số được xác định là bà Đinh Thị Minh (sinh năm 1949, ngụ đội 7, xã Yên Lương) mất tích trước đó ít ngày. Khi đi bà đi dép tông màu vàng, đội nón trắng, khoác túi đựng quần áo, cầm một can đựng nước. Chưa cần kết quả xét nghiệm, những vật chứng tìm thấy tại hiện trường đã đủ cho thấy 90% xác đó chính là bà Minh.

Ông Đinh Văn Xoan em trai nạn nhân cho biết, chị gái mình là con thứ 2 trong gia đình có 5 anh em. Lớn lên bà theo học một lớp sư phạm, nhưng thời chiến tranh, đang học thì nhà trường giải thể, bà quay về sống với bố mẹ.

Lúc đó, các chị em còn lại trong gia đình đều đã lập gia đình, ra ở riêng. Bà Minh ở vậy cấy cày, làm lụng nuôi bố mẹ già và em trai. Trong ký ức của ông Xoan, chị gái mình là người hiền lành, chăm chỉ và chu đáo. Cuộc sống gia đình dù vất vả nhưng đủ ăn, mọi người thương yêu nhau.

Sáng đó, vợ chồng ông đi làm nương rẫy sớm, con cái đi học, một mình chị gái ở nhà. Đến tối đi làm về, không thấy chị gái đâu, vợ chồng ông hỏi hàng xóm thì được biết, khoảng 9h sáng, thấy bà Minh đi khỏi nhà, ra đường cái bắt xe ngược lên theo hướng thị trấn Thanh Sơn.

Sau 3 hôm không thấy chị gái về, cũng không nhận được tin tức gì, gia đình thông báo tới công an và chính quyền. Gần một tháng sau, gia đình mới nghe được tin ở xã bên có sự việc một người chết cháy ở trên đồi, đã bị nấu cao vì nhầm tưởng là tinh tinh. Ông Xoan được công an mời ra ủy ban xã lấy mẫu đi xét nghiệm ADN, đến lúc ấy mới hay hóa ra người chết cháy kia chính là chị gái mình.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Một số loại cao động vật cực tốt cho sức khỏe

Từ xa xưa, loài người đã biết sử dụng các loại động vật săn bắn được để lấy thịt ăn, còn xương dùng nấu thành cao làm thuốc bồi bổ sức khỏe và chữa trị rất hiệu quả nhiều bệnh tật.

Ngày nay, ngành Đông dược nước ta và nhiều nước trên thế giới vẫn kế thừa các biện pháp chế biến xương động vật thành các loại cao để làm thuốc chữa bệnh. Bài viết sau xin giới thiệu những nét cơ bản về tác dụng trị liệu của một số loại cao động vật thường gặp.

Cao xương báo


Xương báo còn gọi là Báo cốt. Tên khoa học OS Pantherae. Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn bộ xương các loài báo. Đông y cho rằng cao mềm nếu từ xương báo tính hơi ấm, vị cay, mặn đi vào kinh can, thận. Dùng làm thuốc bổ toàn thân, có thể dùng thay xương hổ để chữa đau nhức gân xương, tê thấp dưới dạng cao mềm. Ngày uống 5-10g. Người thực nhiệt không nên dùng.

Cao xương gấu


Xương gấu còn gọi là Hùng cốt. Tên khoa học OS ursi. Bộ phận sử dụng là toàn bộ xương các loài gấu đã phơi khô. Tính ấm, cay, vị mặn đi vào kinh can và thận. Tác dụng bồi bổ khí huyết hư tổn, chân lạnh đau buốt (cước khí), gân xương nhức mỏi, trẻ em trúng phong chân tay co giật cũng dùng ở dạng cao mềm với liều trung bình từ 8-12g mỗi ngày.

Cao xương hổ


Xương hổ còn gọi là Hổ cốt hay Đại trùng cốt. Tên khoa học OS Tigris. Bộ phận dùng làm cao gồm toàn bộ xương phơi khô. Theo Đông y cao xương hổ tính nóng cay, mặn; vào kinh can và thận. Dùng chữa phong hàn thấp, gân xương đau nhức, mỏi lưng, nhức chân, hồi hộp lo sợ, điên cuồng. Bồi bổ khí huyết hư tổn. Dùng dạng cao mềm hay ngâm trong rượu trắng. Liều uống trung bình mỗi ngày từ 5-10g. Người huyết hư, hỏa vượng không dùng.


Cao xương hươu, nai


Xương hươu, nai có tên khoa học là OS Cervi. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn; vào kinh can và thận. Thường được dùng phối hợp với các xương thú khác như hổ, báo, gấu, khỉ, dê, ngựa… để nấu thành cao làm thuốc bổ khí huyết hư tổn. Uống ở dạng cao mềm hay rượu, ngày 5-10g.


Cao xương khỉ


Còn gọi là Hầu cốt. Tên khoa học OS Macacae. Bộ phận dùng là toàn bộ xương các loài khỉ phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn, đi vào thận. Dùng làm thuốc bổ máu, bổ toàn thân. Thường dùng cho phụ nữ kém ăn, kém ngủ, xanh xao, thiếu máu, ra mồ hôi trộm. Dùng dưới dạng cao mềm hòa với mật ong, ngày 5-10g.

Cao xương dê


Còn gọi là Dương cốt. Tên khoa học OS Caprae. Bộ phận dùng nấu cao là toàn bộ xương các loài dê phơi khô. Đông y cho rằng cao xương dê tính ấm, vị mặn; đi vào các kinh can, tỳ, thận. Tác dụng trị liệu: làm thuốc bổ máu, phụ nữ sau sinh cơ thể gầy yếu, ăn kém, sữa ít. Đặc biệt còn dùng xương dê phối hợp với xương các loài thú khác như hổ, báo, gấu, khỉ, chó, ngựa… để nấu thành cao làm thuốc bổ toàn thân. Liều dùng thông thường từ 10-20g mỗi ngày.

Cao quy bản


Là dùng yếm rùa khô để nấu thành cao, nên quy bản còn gọi là yếm rùa hay quy giáp. Tên khoa học là carapax Testudinis. Quy bản tính lạnh, vị ngọt, mặn; đi vào các kinh thận, tâm, can, tỳ. Tác dụng chữa thận âm suy yếu, ù tai, nóng nhức trong xương, ho lâu ngày, di tinh; Tay, chân, lưng, gối đau nhức; Phụ nữ khí hư, bạch đới. Dùng dưới dạng thuốc sắc, bột, viên hoàn hoặc dạng cao. Nếu là dạng thuốc sắc, liều lượng trung bình mỗi ngày từ 12-24g. Nếu là dạng cao, ngày dùng từ 10-15g. Cần lưu ý các trường hợp người âm hư mà không nhiệt thì không dùng.


Cao mai ba ba


Mai ba ba còn gọi là Miết giáp hay Thủy ngư xác, Giáp ngư. Tên khoa học Carapax amydae, thuộc họ ba ba (Trionychadae). Bộ phận dùng nấu cao là mai khô. Mai ba ba tính lạnh, vị mặn, đi vào các kinh can, thận, tỳ, phế. Được dùng làm thuốc bổ âm, dùng cho người lao gầy, lao lực quá độ, nhức xương, sỏi đường tiết niệu (tiểu ra sỏi), phụ nữ bế kinh. Sử dụng ở dạng bột, sắc hay cao mềm. Liều trung bình mỗi ngày 10-30g. Các trường hợp không dùng như âm hư mà không nhiệt, tỳ hư lại tiêu chảy, phụ nữ đang mang thai.

Thực ra còn nhiều loại cao nữa như cao trăn toàn tính, cao khỉ toàn tính…; Các loại cao dán ngoài như cao rết, cao nọc rắn v.v… Đó là chưa nói đến các loại cao được chế biến từ dược thảo.

Mong rằng những trình bày trên sẽ giúp chúng ta có được một số khái niệm cơ bản về tác dụng và liều dùng thông thường của các loại cao, tránh tình trạng lạm dụng các loại cao từ động vật vốn vẫn rất thường gặp.